Thứ Ba , 20 Tháng Mười 2026
Home / Tổng hợp / Bài học về Giô-na

Bài học về Giô-na

TÔI VẪN LÀ NHÀ TRUYỀN GIÁO CHO CÁC DÂN TỘC

Hiểu Rõ Tại Sao Chúng Ta Hiện Diện Nơi Đây

(GIÔ-NA 1–4)

Một biên tập viên chuyên mục tôn giáo của một tờ báo nổi tiếng từng đặt ra một câu hỏi đáng suy ngẫm: “Tiêu chuẩn để đánh giá một Hội Thánh lớn mạnh là gì?” Ông tự trả lời bằng một câu hỏi khác: “Nếu Hội Thánh ấy biến mất, ngoài các tín hữu ra, liệu có ai nhớ đến nó không?”Đây là một câu hỏi thú vị. Nó thách thức chúng ta xem xét lý do Hội Thánh hiện hữu, đồng thời mời gọi chúng ta suy nghĩ xem Hội Thánh đang thực hiện mục đích và sứ mạng của mình tốt đến mức nào.Trong những tháng gần đây, tôi bị cuốn hút bởi câu chuyện Giô-na. Tôi tin rằng mục đích và sứ mạng của Hội Thánh được trình bày trong câu chuyện ngắn ấy rõ ràng không kém, thậm chí còn rõ hơn bất kỳ nơi nào khác trong toàn bộ Kinh Thánh.

Giô-na là sách mang nhiều đặc điểm của Tân Ước nhất trong Cựu Ước. Đây không chỉ là câu chuyện về một nhà truyền đạo phản nghịch trong quá khứ, mà còn là câu chuyện về những người theo tôn giáo trong hiện tại.

Đôi khi tôi tự hỏi liệu Hội Thánh ngày nay có sẵn sàng tiếp nhận sứ điệp triệt để của sách Giô-na hay không.Vì sứ điệp ấy gây tranh luận, một số người đã làm giảm nhẹ ý nghĩa của nó. Đối với một số người, sách này bị hạ xuống thành một câu chuyện cổ tích về con cá voi nuốt một người. Tuy nhiên, tôi hy vọng Hội Thánh sẽ lắng nghe lại sứ điệp ấy. Sứ điệp của sách Giô-na chính là sứ mạng của Hội Thánh.Câu chuyện ngắn này chứa đựng câu trả lời cho câu hỏi về mục đích của Hội Thánh. Cách Hội Thánh đáp ứng sứ điệp của sách Giô-na sẽ quyết định liệu cộng đồng có nhớ tiếc Hội Thánh hay không, nếu một ngày nào đó Hội Thánh đột nhiên biến mất.

Sứ Mạng Được Bày Tỏ

Những lời đầu tiên đến với Giô-na là: “Hãy chỗi dậy! Hãy đi đến thành Ni-ni-ve” (Giô-na 1:2).

Điều đó cũng giống như nói: “Hãy đứng dậy và bắt tay vào công việc!” Giô-na vô cùng sửng sốt.

Giô-na phản ứng: “Ngài muốn nói gì? Ni-ni-ve sao? Chắc Ngài đang đùa!”

Dĩ nhiên, chúng ta biết người Do Thái khinh ghét dân Ni-ni-ve. Ni-ni-ve là thủ đô của A-si-ri, một trong những quốc gia hùng mạnh và gian ác nhất trên đất vào thời ấy. Vì vậy, người Do Thái không xem Ni-ni-ve là một cánh đồng truyền giáo. Thật ra, họ cho rằng dân Ni-ni-ve nằm ngoài phạm vi ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời.H. Stephen Shoemaker nhắc nhở rằng qua nhiều năm, chúng ta đã thay đổi tên gọi Ni-ni-ve “ thành Ba-by-lôn, Rô-ma, Berlin, Moscow, Havana và Iran. Ni-ni-ve là vùng đất nơi những người không tin kính sinh sống và đe dọa xâm chiếm chúng ta.”

Tuy nhiên, Ni-ni-ve không nhất thiết phải là một vùng đất xa xôi. Đó có thể là người hàng xóm ngay bên cạnh nhà bạn.

Ni-ni-ve là bất kỳ nơi nào bạn từ chối tham gia vào sứ mạng của Đức Chúa Trời.Thật đáng kinh ngạc khi chúng ta thường đặt ra những ranh giới quanh ân điển Đức Chúa Trời và công việc truyền giáo của Hội Thánh. Tại Hoa Kỳ, có 100 triệu người không thuộc bất kỳ tổ chức tôn giáo nào. Trong số hơn 40.000 người sống tại quận nơi tôi cư ngụ, hơn một nửa không thuộc bất kỳ Hội Thánh nào.

Đôi khi tôi muốn hỏi: Chúng ta có xem những người ấy vẫn nằm trong phạm vi ân điển của Đức Chúa Trời không? Vòng tay yêu thương của chúng ta có thường xuyên ôm lấy những “người Ni-ni-ve” đang sống ngay trong khu phố mình không?“Ai sẽ chinh phục nước Mỹ?” là khẩu hiệu chủ đề trong một chương trình nhấn mạnh về truyền giáo gần đây của một giáo phái. Đây là một câu hỏi hay. Ai sẽ làm điều đó?

Jeff và Melva Clark trở về sau một chuyến truyền giáo tại Kenya. Trong bản báo cáo truyền giáo, Jeff đưa ra một nhận xét đáng chú ý:

“Các Hội Thánh của chúng ta tại Hoa Kỳ đã hiểu hoàn toàn sai. Chúng ta nghĩ rằng thỉnh thoảng Đức Chúa Trời mới kêu gọi một người bước vào công việc truyền giáo.

Nhưng điều chúng ta cần hiểu là Đức Chúa Trời đã kêu gọi mọi người tham gia sứ mạng Cơ Đốc, trừ khi Ngài chỉ dẫn một người làm công việc khác.” Có lẽ công cuộc truyền bá Tin Lành trên thế giới sẽ thay đổi đáng kể nếu các Hội Thánh nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời kêu gọi mọi người tham gia sứ mạng. Ngay cả trong những trường hợp Ngài hướng dẫn một người làm công việc khác, Ngài vẫn kêu gọi tất cả mọi người trở thành những nhà truyền giáo qua nỗ lực tiếp cận người khác.

Bạn có thể là công nhân trong một nhà máy, nhưng bạn cũng là một nhà truyền giáo. Bạn có thể là giáo viên, nhưng bạn cũng là một nhà truyền giáo. Bạn có thể là người nội trợ, bác sĩ, luật sư hoặc thợ sửa máy tự kinh doanh, nhưng bạn cũng là một nhà truyền giáo. Chúng ta nói về sự phát triển của Hội Thánh. Tuy nhiên, nếu thành thật, chúng ta phải thừa nhận rằng phần lớn sự phát triển của Hội Thánh chẳng qua chỉ là việc chuyển tín hữu từ Hội Thánh này sang Hội Thánh khác và làm phép báp-têm cho con cái của các tín hữu. Chuyên gia tư vấn phát triển Hội Thánh Ron Lewis từng hướng dẫn một hội nghị về sự phát triển, ông phát biểu:

“Trong 92% các Hội Thánh của quý vị, sự phát triển thật sự duy nhất trong năm năm qua đến từ việc làm phép báp-têm cho con cái các tín hữu và tiếp nhận những tín hữu chuyển đến từ các Hội Thánh khác.”

Bằng cách nào đó, Hội Thánh phải hiểu rằng “một Cơ Đốc giáo không truyền giáo là một khái niệm tự mâu thuẫn.”

Sứ Mạng Bị Khước Từ

Giô-na từ chối đi. Đây không phải là lần đầu tiên trong lịch sử con người từ chối thực hiện điều Đức Chúa Trời đòi hỏi.Trong một cuộc họp thảo luận về sứ mạng của Hội Thánh, một chấp sự đã vô tình bộc lộ quan điểm thần học cá nhân của mình khi nói:“Người hàng xóm bên cạnh thấy chúng tôi thức dậy và đi nhà thờ mỗi Chủ nhật. Ông ấy biết chúng tôi ở đâu, và nếu muốn đến thì ông ấy biết phải tìm chúng tôi tại đâu.”Tôi thầm nghĩ: Điều gì đã xảy ra với lời phán: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân” (Ma-thi-ơ 28:19), và: “Hãy đi ra ngoài đường và dọc hàng rào, ép người ta vào đầy nhà ta” (Lu-ca 14:23)?

Thay vì đến Ni-ni-ve, Giô-na xuống tàu đi Ta-rê-si. Đức Chúa Trời phán: “Hãy đi về phía đông,” nhưng Giô-na lại đi về phía tây. Trong hành trình, một cơn bão nổi lên. Những thủy thủ vô cùng sợ hãi. Họ bắt thăm để tìm hiểu thần của ai đang nổi giận với người nào. Lá thăm trúng Giô-na. Họ đến tìm và thấy ông đang ngủ trong khoang tàu. Họ hỏi:“Này thủy thủ, chuyện gì đang xảy ra với ông vậy?” Giô-na thú nhận rằng mình đang chạy trốn khỏi Chúa và bảo họ:“Hãy ném tôi xuống biển thì mạng sống các ông có thể được bảo toàn!” Tuy nhiên, hãy chú ý câu 12 và 13. Vì lòng thương xót, họ cố tránh làm theo đề nghị của Giô-na. Điều khiến tôi chú ý là họ quan tâm đến sự an toàn thể chất của Giô-na nhiều hơn mức Giô-na quan tâm đến sự cứu rỗi thuộc linh của dân Ni-ni-ve. Tôi cho rằng đó chính là điều đáng buồn trong câu chuyện này cũng như câu chuyện của chúng ta. Ngày nay, ít người tin Chúa vì dường như cũng có rất ít người trong chúng ta quan tâm đến việc khuyên họ tin vào vương quốc ân điển.

Một người từng hỏi tôi: “Các tín hữu trong Hội Thánh có thật sự quan tâm đến việc người ta đang hư mất vì không có Đấng Christ không?” Thật đau lòng khi phải trả lời câu hỏi ấy cách thành thật. Tôi biết tất cả chúng ta dễ dàng trở nên thờ ơ với vấn đề này như thế nào. Các thủy thủ càng cố chèo thì cơn bão càng dữ dội. Vì vậy, khi đã kiệt sức vì chèo chống, họ ném Giô-na xuống biển. Sau đó là phần câu chuyện về con cá lớn. Tôi nghĩ đôi khi chúng ta bị con cá “nuốtlấy” sự chú ý đến mức bỏ lỡ sứ điệp của câu chuyện và vai trò thật sự của nó. Như một nhà truyền đạo miền quê lớn tuổi từng nói: “Giô-na đang chạy trốn thật nhanh khỏi Đức Chúa Trời.” Ông cố ẩn mình khỏi Đức Chúa Trời và trốn tránh mạng lệnh đi đến Ni-ni-ve. Giữa những con sóng cuộn dữ dội xung quanh, Giô-na lại được nghỉ ngơi an toàn trong bụng cá. Nếu ngày nay việc giải nghĩa một phân đoạn theo nghĩa thuộc linh vẫn được chấp nhận, chúng ta có thể gọi con cá lớn là Hội Thánh. Chúng ta dễ dàng ẩn mình bên trong Hội Thánh và né tránh “mục đích Hội Thánh hiện hữu.” Giữa thế giới hỗn loạn xung quanh, Hội Thánh trở thành môi trường an toàn nhất và thường ít gây cảm giác bị đe dọa nhất. Giữa vô số hoạt động của Hội Thánh, chúng ta dễ dàng ẩn mình khỏi Đức Chúa Trời và né tránh lời kêu gọi của Ngài phải đi đến Ni-ni-ve. Điều đó đúng, phải không?

Sự thờ phượng thường phơi bày tình trạng mâu thuẫn của chúng ta. Chúng ta hát những thánh ca như Mang Những Bó Lúa Về, trong khi phần lớn chúng ta phải cố hết sức mới rời khỏi giường để đến Hội Thánh. Chúng ta hát Xin Khiến Con Thành Nguồn Phước, trong khi phần lớn lại thích chuyển các kênh truyền hình để tìm điều gì đó thú vị hơn. Hoặc chúng ta hát Chúng Ta Có Một Câu Chuyện Để Kể Cho Muôn Dân, trong khi thật ra chúng ta thích chia sẻ những chuyện ngồi lê đôi mách vừa nghe được hơn. Rồi còn bài hát đầy thách thức Xin Lấy Đời Con—nhưng điều chúng ta thật sự muốn là được sống thoải mái, thuận tiện, bình yên và không bị quấy rầy: “Lạy Chúa, xin đừng làm phiền con! Cứ để con yên!”

Chúng ta giống như một người say loạng choạng bước trên vỉa hè, vấp chân rồi ngã ngửa vào một vùng bê tông vừa mới đổ. Không thể đứng dậy, ông cảm thấy lớp bê tông từ từ tràn quanh thân thể say mềm của mình và đông cứng lại. Sáng hôm sau, khi người ta phát hiện ông, đội cứu hỏa được gọi đến để giải thoát ông khỏi lớp bê tông đã cứng. Mỗi lần chiếc búa tạ giáng xuống mặt đường, toàn thân ông rung lên vì đau đớn. Cuối cùng, khi được giải thoát, ông từ từ đứng dậy và lẩm bẩm:

“Say rượu thì nghe có vẻ được trên lý thuyết, nhưng khi thành ‘bê tông cụ thể’ thế này thì chẳng thú vị chút nào!” Đó cũng là vấn đề của nhiều người trong chúng ta. Nói một cách trừu tượng về sứ mạng của Hội Thánh thì dễ hơn nhiều so với việc thực hiện sứ mạng ấy bằng những hành động cụ thể trong thế giới. Mặc dù ẩn mình trong Hội Thánh để trốn tránh sứ mạng có vẻ an toàn, Đức Chúa Trời sẽ không để chúng ta ở mãi nơi đó. Nếu quả thật Đức Chúa Trời an ủi những người đau khổ và khuấy động những người đang sống thoải mái, thì Ngài sẽ làm với chúng ta điều Ngài đã làm với Giô-na. Ngài sẽ khiến con cá nhả chúng ta lên bờ thực tế. Đừng bao giờ nghĩ Đức Chúa Trời sẽ để Hội Thánh thụ động trôi dạt trên biển hỗn loạn. Ngài sẽ không bao giờ để chúng ta làm như vậy. Trong vòng ba ngày, Giô-na nhận thấy mình đã ở trên bờ. Ông có thay đổi gì không? Có lẽ là không!

H. Stephen Shoemaker đã đưa ra một nhận xét sâu sắc và hài hước: “Con cá đã thay đổi điểm đến của Giô-na nhưng không thay đổi tính tình ông. Nó thay đổi vị trí địa lý của Giô-na nhưng không thay đổi quan điểm thần học của ông.”

Sứ Mạng Được Tái Khẳng Định

Lời Đức Chúa Trời đến với Giô-na lần thứ hai, và điều đáng chú ý là Ngài vẫn phán cùng một lời:“Hãy chỗi dậy! Hãy đi đến thành Ni-ni-ve” (Giô-na 3:2).

Sứ mạng của Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi. Một số người trong chúng ta đã nghe sứ mạng ấy suốt đời. Chúng ta nghe nhiều đến mức không còn thật sự nghe thấy nữa. Có thể câu “quen thuộc sinh ra khinh thường” không phải lúc nào cũng đúng, nhưng quả thật “quen thuộc sinh ra thờ ơ.” Chúng ta đã trở nên thờ ơ với sứ mạng của Hội Thánh, phải không? Vẫn còn hy vọng. Lần thứ hai, Giô-na đã đi. Ban đầu, chúng ta cảm thấy được khích lệ. Dường như Giô-na đã thay đổi tấm lòng. Có vẻ ông đã miễn cưỡng chấp nhận sứ mạng Đức Chúa Trời giao phó. Tuy nhiên, đừng vội vui mừng. Hãy xem bài giảng của ông: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị đổ xuống!” (câu 4).

Bài giảng ấy bộc lộ thái độ trong lòng Giô-na. Ông không đến đó vì muốn đến. Ông đến vì cảm thấy bắt buộc và mang tinh thần báo thù. Ông đến đó vì biết mình không thể chống lại Đức Chúa Trời. Ông giống như nhiều Cơ Đốc nhân mà tôi biết. Ông thực hiện công việc của Đức Chúa Trời không phải vì muốn làm, nhưng vì cảm thấy mình không còn lựa chọn nào khác. Giô-na tức giận với dân Ni-ni-ve, và lời giảng của ông phản ánh mong muốn báo thù. Ông không phải là nhà truyền đạo đầu tiên sử dụng bục giảng để trút giận hoặc thậm chí tìm cách trả thù. Ông hy vọng Đức Chúa Trời sẽ giày đạp dân Ni-ni-ve, giống như một số tín hữu tốt trong Hội Thánh mong Ngài giày đạp kẻ thù của họ. Tuy nhiên, mọi việc đã không diễn ra như Giô-na mong muốn.

Khi dân Ni-ni-ve nghe Giô-na lớn tiếng công bố những lời cay nghiệt và sự phán xét, thật lạ lùng, ân điển Đức Chúa Trời vẫn được truyền đạt và dân chúng đã ăn năn. Đôi khi tôi kinh ngạc trước những gì Đức Chúa Trời có thể thực hiện qua nỗ lực yếu ớt của tôi trong việc công bố ân điển Ngài, đặc biệt khi trong lòng tôi—hoặc trong giọng nói của tôi—có quá ít ân điển. Tôi cũng kinh ngạc trước những gì Ngài có thể thực hiện qua lời chứng của Hội Thánh về Đấng Christ, ngay cả khi thái độ của chúng ta không đúng. Ít người trong chúng ta dám tự vỗ vai và xem mình là những “siêu Cơ Đốc nhân.” Tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn có thể hành động qua chúng ta và đôi khi bất chấp cả những khuyết điểm của chúng ta. Giô-na phản ứng thế nào khi dân Ni-ni-ve ăn năn?

Câu trả lời nằm trong Giô-na 4:1–2:“Bấy giờ Giô-na rất không đẹp lòng và giận dữ.” Dĩ nhiên, Giô-na vốn đã tức giận. Nhưng giờ đây ông thật sự nổi giận. “Người cầu nguyện Đức Giê-hô-va rằng: Ôi! Đức Giê-hô-va! Đây há chẳng phải là điều tôi đã nói khi tôi còn ở trong xứ tôi sao?” Điều đó giống như ông đang nói: “Con đã nói với Ngài rồi mà! Con đã nói Ngài là Đức Chúa Trời đầy ân điển và tha thứ. Con biết Ngài sẽ không hủy diệt họ. Con rao giảng sự phán xét, nhưng Ngài lại bày tỏ lòng thương xót. Như thế không công bằng. Con rao giảng về lửa địa ngục và sự đoán phạt, nhưng Ngài lại đáp lại bằng tình yêu thương và sự chấp nhận. Con không thể chịu được điều này. Ngài sẽ không khiến con trở thành kẻ ngốc đâu!” Những lời trách móc tuôn ra từ lòng kiêu hãnh bị tổn thương của Giô-na.Giô-na giận dỗi bỏ đi. Cách hành xử của ông khiến tôi nhớ đến những người mình từng biết, là những người quay lưng với Đức Chúa Trời, Hội Thánh hoặc hôn nhân khi mọi việc không diễn ra như mong muốn.

Nhưng ngay giữa lúc Giô-na đang hờn dỗi, Đức Chúa Trời khiến một cây mọc lên trên đầu để che bóng cho ông. Giô-na biết ơn vì cây ấy. Đó là một kinh nghiệm bình an đối với ông. Thật kỳ diệu, Đức Chúa Trời biết có những lúc chúng ta cần yên lặng và suy ngẫm về công việc của Ngài, cũng như đôi khi về sự im lặng của Ngài trong đời sống mình.Tuy nhiên, tấm lòng của Giô-na vẫn chưa ngay thẳng. Ông vẫn còn nhiều điều phải học. Vì vậy, khi trời sáng, một con sâu xuất hiện và ăn phá sự sống của cây ấy, giống như mối ăn mòn nền nhà nhưng nhanh hơn nhiều. Giô-na vô cùng tức giận. Ông cau mày, mặt đỏ bừng vì giận dữ và nói: “Lạy Đức Chúa Trời, sao Ngài có thể để điều này xảy ra? Thật khó hiểu được Ngài! Ngài để cho 120.000 người gian ác nhất thế giới được sống, nhưng lại để cây yêu quý của con chết!” Về cơ bản, Đức Chúa Trời nhẹ nhàng đáp lại:

“Giô-na, chính ngươi mới là người khó hiểu. Ngươi quan tâm đến cây của mình nhiều hơn quan tâm đến dân Ta. Ta quan tâm đến con người hơn bất kỳ loài cây nào.”

Câu chuyện kết thúc bằng lời ấy. Chúng ta phải tự hỏi: Có phải đối với một số người trong chúng ta, khóc thương một cây dương xỉ chết trong phòng kính còn dễ hơn khóc thương những người trên thế giới đang chết mất mà không có “ánh sáng của Đức Chúa Con” chiếu rọi trong lòng họ không?

Câu chuyện Giô-na đặt mỗi chúng ta trước một quyết định. Chúng ta sẽ vui mừng trong ân điển Đức Chúa Trời được ban cho mọi người và cùng tham gia truyền bá ân điển ấy? Hay chúng ta sẽ hờn dỗi như Giô-na vì Đức Chúa Trời ban ân điển cách nhưng không cho tất cả mọi người?

Đó là tối thứ Hai, thời gian chơi bóng rỗ dành cho những người đàn ông trên ba mươi tuổi tại Hội Thánh chúng tôi. Tôi có mặt ở đó không phải vì mình chơi bóng rỗ giỏi, nhưng vì tôi yêu thích môn thể thao này và vui hưởng sự thông công với một số người. Trong giờ nghỉ giữa hiệp, một tín hữu trung tín đến gần và hỏi tôi về một người đàn ông có tên trong danh sách cầu nguyện của Hội Thánh suốt vài tuần.

Trong hoàn cảnh khác, điều đó chẳng có gì bất thường. Tuy nhiên, lần này người có tên trong danh sách cầu nguyện từng là Grand Wizard—lãnh đạo tối cao của tổ chức Ku Klux Klan (KKK). Giọng nói và cách đặt câu hỏi cho thấy tín hữu ấy rõ ràng không hài lòng khi tên của người đàn ông đó xuất hiện trong danh sách cầu nguyện. Tôi giải thích rằng mình đã đến thăm ông kể từ khi một tai nạn suýt chết khiến ông mất khả năng hoạt động. Tín hữu ấy nghiêm giọng hỏi:

“Ông ta đã bày tỏ dấu hiệu ăn năn rõ ràng nào chưa?”

“Tôi tin là có,” tôi trả lời với chút do dự. “ Theo nhận xét của tôi, ông ấy đang cố gắng tìm kiếm Đức Chúa Trời, từ bỏ thành kiến và để quá khứ lại phía sau.”“Hừm!” người ấy khịt mũi, tỏ rõ vẻ không tin. Ông giải thích: “Điều đó nghe thật kỳ lạ đối với tôi. Nhưng tôi nghĩ nếu Ayatollah Khomeini ăn năn thì sự tha thứ cũng sẽ dành cho ông ấy!”

Khi ông nói, tôi nghĩ đến Giô-na, dân Ni-ni-ve và ân điển Đức Chúa Trời—ân điển vươn đến và tha thứ ngay cả cho những thành viên của tổ chức KKK. Chúng ta sẽ tiếp nhận lời Đức Chúa Trời phán: “Hãy chỗi dậy và đi” như thế nào? Một cách tự nguyện hay miễn cưỡng?

Giô-na không phải là một nhân vật xa lạ nào đó trong thời cổ đại. Giô-na chính là bạn. Giô-na chính là tôi. Và chừng nào Giô-na phản nghịch trong lòng mỗi chúng ta chưa bị đối diện và chế ngự, sứ mạng của Hội Thánh vẫn còn đình trệ. Câu hỏi này cần được trả lời: “Nếu Hội Thánh đột nhiên biến mất, ngoài các tín hữu ra, liệu có ai nhớ đến Hội Thánh không?” Câu trả lời tùy thuộc vào cách thức và mức độ nghiêm túc mà mỗi chúng ta tiếp nhận sứ mạng của mình trong thế giới. Cách chúng ta đáp ứng sẽ quyết định ảnh hưởng của Hội Thánh đối với từng cộng đồng và cuối cùng là toàn thế giới.

Nhà thần học người Đức Emil Brunner đã nói đúng khi cho rằng Hội Thánh hiện hữu nhờ sứ mạng, giống như lửa hiện hữu nhờ sự cháy. Nếu không biết ơn tiếp nhận sứ mạng của Đức Chúa Trời, Hội Thánh không còn là Hội Thánh nữa. Nhưng khi tiếp nhận sứ mạng ấy, Hội Thánh trở thành một Giô-na đã được hòa giải và đem sự hòa giải đến cho thế giới.

–

Mục sư Ân Điển

admin biên tập

Đề tài: Hãy chỗi dậy và đi

Kinh Thánh: Giô-na 1:1-12
Câu gốc: “Ngươi khá chỗi dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và kêu la nghịch cùng nó; vì tội ác chúng nó đã lên thấu trước mặt ta.” Giô-na 1:2

BỐ CỤC

1/ Lời Chúa được bày tỏ cho Giô-na, nhưng ông khước từ (Giô-na 1:2-3)

2/  Giô-na cầu nguyện trong bụng cá (Giô-na 2:10)

3/ Lời Chúa phán với Giô-na lần 2 (Giô-na 3:2)

4/ Cơn giận của Giô-na và câu trả lời từ Chúa (Giô-na 4:1, 9)

Phần mở đầu bài giảng

Giới thiệu chung về sách Giô-na: Viết khoảng thế kỷ thứ 8 T.C, khác với các sách tiên tri khác không chứa nhiều lời tiên tri, mà là câu chuyện cuộc đời của chính tiên tri Giô-na. Tên Đức Chúa Trời được nhắc đến 37 lần, còn tên Giô-na chỉ 18 lần – quyển sách này không nói về một người đàn ông, mà nói về bản tính của Chúa.

Bối cảnh lịch sử: Ni-ni-ve là thủ đô đế quốc A-si-ry, kẻ thù tàn bạo đã nhiều lần tấn công dân Y-sơ-ra-ên. Giô-na không chịu đi giảng đạo vì ông biết nếu họ ăn năn, Chúa sẽ tha thứ, điều ông không mong muốn.

Chủ đề xuyên suốt toàn bộ sách: Đức Chúa Trời là Đấng giàu lòng thương xót, nhân từ, chậm giận, sẵn sàng tha thứ cho mọi người – kể cả kẻ thù của dân Ngài.


 Bố cục chi tiết theo từng chương

Mỗi chương tương ứng với một bài học cốt lõi, thường được chia thành 4 bài giảng liên tiếp cho các Chúa Nhật:

Chương 1: Giô-na chạy trốn khỏi mặt Chúa

Điểm chính: Chúa kêu gọi Giô-na đi rao giảng tại Ni-ni-ve, nhưng ông chọn chạy ngược hướng, đi đến Ta-rê-si để trốn khỏi ý Chúa.

Những bài học nổi bật:

Không ai có thể trốn khỏi sự hiện diện của Chúa

Sự không vâng lời kéo theo “cuộc đời đi xuống”: Giô-na xuống cảng, xuống tàu, xuống đáy tàu ngủ, cuối cùng bị ném xuống biển

Cơn bão tố trong cuộc đời thường là lời cảnh báo dịu dàng của Chúa để gọi chúng ta quay về

Áp dụng thực tế: Chúng ta thường “chạy trốn” Chúa khi Ngài kêu gọi chúng ta làm điều chúng ta không muốn, đặc biệt là khi phải làm chứng cho những người chúng ta không thích.

Chương 2: Lời cầu nguyện của Giô-na trong bụng cá

Điểm chính: Chúa chuẩn bị con cá lớn nuốt Giô-na, ông ở trong bụng cá 3 ngày 3 đêm, hết lòng ăn năn và kêu cầu Chúa giải cứu.

Những bài học nổi bật:

Ngay cả khi chúng ta đi sai đường, Chúa vẫn giữ chúng ta trong bàn tay Ngài

Lời cầu nguyện chân thành của người đang ở trong hoạn nạn luôn được Chúa nghe thấy

Sự cứu rỗi đến từ Đức Giê-hô-va” là lời khẳng định đỉnh cao của chương này

Áp dụng thực tế: Những “bụng cá” trong cuộc đời thường là nơi duy nhất chúng ta học được cách thực sự tin tưởng và kêu cầu Chúa.

Chương 3: Giô-na vâng lời đi giảng đạo tại Ni-ni-ve

Điểm chính: Chúa gọi Giô-na lần thứ hai, ông vâng lời đi đến Ni-ni-ve và rao sứ điệp: “Còn 40 ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị đổ xuống”. Toàn thành phố từ vua đến dân thường, kể cả thú vật, đều ăn năn, kiêng ăn và kêu cầu Chúa. Chúa thấy lòng ăn năn của họ nên tha thứ, không giáng phạt.

Những bài học nổi bật:

Chúa luôn cho chúng ta cơ hội thứ hai, ngay cả khi chúng ta đã thất bại lần đầu

Một bài giảng ngắn chỉ vài câu, nhưng đi kèm với lời chứng cá nhân chân thành có thể thay đổi cả một thành phố

Lời cảnh báo về sự đoán phạt luôn đi kèm với lời mời gọi ăn năn và tha thứ

Áp dụng thực tế: Chúa luôn mong muốn tất cả mọi người ăn năn và được cứu rỗi, không chỉ những người thuộc về dân Ngài.

Chương 4: Cơn giận của Giô-na và câu trả lời của Chúa

Điểm chính: Giô-na rất tức giận vì Chúa đã tha thứ cho người Ni-ni-ve. Ông ngồi ngoài thành chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra, Chúa dùng cây thầu dầu và con sâu để dạy cho ông bài học về lòng thương xót.

Những bài học nổi bật:

Lỗi lầm lớn nhất của tiên tri không phải là chạy trốn, mà là ông có một trái tim cứng rắn, không muốn Chúa yêu thương kẻ thù

Chúa quan tâm đến từng người, kể cả những người chúng ta cho là không xứng đáng được yêu thương

“Tại sao ngươi lại giận dữ vậy?” là câu hỏi Chúa đặt cho mỗi chúng ta khi chúng ta không đồng tình với lòng nhân từ của Ngài

Áp dụng thực tế: Làm theo ý Chúa không chỉ là làm đúng điều Ngài bảo, mà còn là có được tấm lòng yêu thương như tấm lòng của Chúa.


 Thông điệp tổng kết bài giảng

Điểm xuyên suốt toàn bộ sách Giô-na có thể tóm gọn trong một câu: Chúa yêu cả kẻ thù của bạn.

Sách Giô-na không phải là câu chuyện về một điều kỳ diệu của cá lớn, mà là câu chuyện về một điều kỳ diệu lớn hơn nhiều: Đức Chúa Trời sẵn sàng nhường nhịn, chờ đợi, và tha thứ cho bất kỳ ai – dù họ là ai, dù họ đã làm gì.

🙂

Một góc nhìn:

Sự tương đồng được ghi nhận trong Kinh Thánh:

  • Chúa Giê-su tự mình xác nhận sự tương quan giữa câu chuyện Giô-na và sự phục sinh của Ngài: “Vì Giô-na đã ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày và ba đêm như vậy” (Ma-thi-ơ 12:40). Đây là điểm quan trọng nhất – chính Chúa Giê-su dùng trải nghiệm của Giô-na như một dấu chỉ (dấu lạ) tiên trỏ về sự chết và phục sinh của Ngài.
  • Cả hai đều là phép lạ của Đức Chúa Trời, vượt qua quy luật tự nhiên: Giô-na được gìn giữ một cách nhiệm mầu trong bụng cá, còn Chúa Giê-su chiến thắng sự chết.

Tuy nhiên, có sự khác biệt quan trọng về bản chất:

  1. Về cái chết và sự sống lại:
    • Trong trường hợp Giô-na, Kinh Thánh không tường thuật rõ là ông chết trong bụng cá hay chỉ được bảo toàn sự sống một cách lạ lùng. Đa số cách giải thích cho rằng Giô-na được giữ sống suốt ba ngày bởi quyền năng Chúa, chứ không phải chết đi rồi sống lại.
    • Còn với Chúa Giê-su, Kinh Thánh khẳng định rõ Ngài đã chết thật, được chôn trong mồ, rồi sống lại từ cõi chết – có nhiều nhân chứng xác nhận (500 người cùng thấy Ngài sau phục sinh, theo 1 Cô-rinh-tô 15:6).
  2. Về mục đích và ý nghĩa:
    • Giô-na được cứu để hoàn thành sứ mạng rao giảng cho dân thành Ni-ni-ve – một sứ mạng cứu độ giới hạn cho một dân tộc.
    • Sự phục sinh của Chúa Giê-su mang ý nghĩa cứu rỗi toàn nhân loại – chiến thắng tội lỗi và sự chết, mở đường cho sự sống đời đời cho mọi người tin.
  3. Về thân vị:
    • Giô-na là một tiên tri bất tuân, vị cứu rỗi ông được nhờ ân điển của Chúa.
    • Chúa Giê-su tự mình là Con Đức Chúa Trời – Đấng vô tội, tự nguyện chịu chết để cứu chuộc.

Kết luận: Quan điểm bạn nêu ra – rằng Giô-na có thể đã chết trong bụng cá rồi được Chúa cho sống lại – là một cách giải thích thần học hợp lý, được một số nhà nghiên cứu ủng hộ, bởi điều đó làm nổi bật hơn sự tương đồng với sự phục sinh của Chúa Giê-su. Tuy nhiên, Kinh Thánh không khẳng định trực tiếp điều này, và nhiều truyền thống giải thích khác cho rằng Giô-na chỉ được bảo toàn sự sống.

Điểm cốt lõi là: dù Giô-na chết hay chỉ được giữ sống, câu chuyện của ông là dấu chỉ quyền năng và ân điển của Chúa, hướng đến dấu lạ tối hậu là sự phục sinh của Đấng Christ – Đấng “tôn trọng hơn Giô-na” (Ma-thi-ơ 12:41).

🙂

Sách Giô-na viết về vấn đề gì? Có bốn lần con cá lớn được nhắc đến, tuy nhiên quyển sách này không nói về một con cá. Tên Giô-na được nhắc đến mười tám lần, nhưng Danh Đức Chúa Trời được nhắc đến ba mươi bảy lần! Quyển sách này nói về Đức Chúa Trời và cách mà Ngài giải quyết với những người muốn làm theo ý mình và từ bỏ ý Chúa. Giô-na chắc chắn biết mình không thể trốn khỏi Chúa. “Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa?” (Thi Thiên 139: 7). Nếu chúng ta có ý muốn trốn khỏi mặt Chúa thì hậu quả sẽ thật đau đớn.

Cuộc đời đi xuống.

Giô-na xuống cảng Gia-phô sau đó xuống một con tàu (Giô-na 1:3), và rồi xuống nơi thấp nhất của con tàu để ngủ (c. 5). Có thể bạn nghĩ rằng lương tâm tội lỗi đang cáo trách cộng với cơn bão sẽ có thể khiến Giô-na thức tỉnh, nhưng không, ông ngủ thật yên giấc. Rất thường khi không vâng theo Chúa, chúng ta sẽ có một thời gian yên lặng bí mật ru ngủ chúng ta vào một sự bình an giả tạo. Đây là một sự lừa dối của Sa-tan. Nhưng đó không phải là cái kết. Mặc dù được các thủy thủ người ngoại cố gắng giữ mạng sống, Giô-na nài nỉ họ quăng ông xuống biển, và thế là ông xuống lòng biển nơi một con cá lớn đang chờ đợi ông. Con cá nuốt chửng Giô-na, ông xuống dạ dày của con cá. Xuống, xuống, xuống và xuống! Trước đó Giô-na đã nhận một sứ điệp từ Đức Chúa Trời, một sứ điệp có thể cứu sống một triệu dân tại thành Ni-ni-ve. Tuy nhiên là một người Do Thái yêu nước và ghét ngoại bang, Giô-na muốn cho họ phải chết.

Cuộc sống đầy giông bão.

Đức Chúa Trời kêu gọi người Do Thái để họ trở nên một nguồn phước cho thế giới (Sáng thế ký 12:1-3), tuy nhiên mỗi khi không vâng lời Chúa, họ đều gây ra tai họa thay vì phước hạnh. Tên Giô-na có nghĩa là bồ câu, tuy nhiên ông không hề đem sự bình an lên con tàu. Một con cái Chúa khi không vâng lời có thể gây ra tai họa lớn hơn cả một đoàn người ngoại đạo khi không vâng lời. Khi Giô-na đã bước đi nghịch cùng Chúa, Ngài không còn phán với ông được nữa nhưng phải dùng đến cơn bão để thu hút sự chú ý của ông. Giô-na cũng đánh mất năng quyền cầu nguyện (Giô-na 1:6) cũng như mất đi lời chứng của ông trước các thủy thủ người ngoại (c. 7-9), và vì cố gắng lánh mặt Chúa, ông đã gần như đánh mất mạng sống của chính mình và khiến cho thủy thủ đoàn gặp nguy hiểm. Tuy nhiên khi Giô-na bị quăng khỏi con tàu, cơn bão liền yên lặng! Tôi đã nhìn thấy những gia đình đi từ bão tố đến phước hạnh yên ổn khi tội lỗi trong gia đình ấy được xưng ra và được tha thứ – điều này cũng xảy ra trong Hội Thánh.

Ăn năn là hy vọng sống.

Có thể Giô-na mong muốn một cái chết nhanh chóng, tuy nhiên Đức Chúa Trời có một kế hoạch khác. Giô-na phải mất đến ba ngày để đi đến chỗ cầu nguyện và cầu xin sự tha thứ, tuy nhiên khi ông đã ăn năn, Đức Chúa Trời giải cứu ông và đưa ông về với đất liền. Trong lời cầu nguyện của Giô-na có trích dẫn nhiều câu Kinh Thánh trong sách Thi Thiên, việc ghi nhớ Kinh Thánh giờ đây lại rất hữu ích cho Giô-na. Khi con cá lớn nhả Giô-na ra nơi đất khô, những ai nhìn thấy điều đó chắc hẳn sẽ rất kinh ngạc và hoảng sợ, và việc này nhanh chóng truyền đến Ni-ni-ve. Khi Giô-na đến nơi, họ đã sẵn sàng lắng nghe, ăn năn tội lỗi, và được thoát khỏi sự hình phạt. Chúa đã cho Giô-na một cơ hội mới, cũng như Ngài đã từng tạo cơ hội cho Áp-ra-ham, Gia-cốp, Môi-se, Đa-vít, Phi-e-rơ và….Chỉ duy một Đức Chúa Trời đầy ân điển là Đấng mà chúng ta thờ phượng mới có thể tiếp nhận một đầy tớ đầy ương ngạnh, bất tuân và sử dụng đầy tớ ấy để đem lại sự tỉnh thức tâm linh cho một thành phố lớn. Đức Chúa Giê-su dùng trải nghiệm của Giô-na để nói về sự phục sinh của Ngài và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc lắng nghe lời Chúa và ăn năn (Ma-thi-ơ 12:38-41; 16:4). Tôi tin rằng bạn không trốn khỏi mặt Chúa. Nhưng nếu bạn đang ở trong trường hợp này, hãy đổi hướng và chạy về với Ngài, Ngài sẽ ban cho bạn một khởi đầu mới.”Đến ngày phán xét, dân thành Ni-ni-ve sẽ đứng dậy với dòng dõi nầy mà lên án nó, vì dân ấy đã nghe lời Giô-na giảng và ăn năn.” Ma-thi-ơ 12:41

🙂

Câu hỏi của bạn đề cập đến hai vấn đề: số dân của thành Ni-ni-ve và ý nghĩa của cụm từ “không biết phân biệt tay hữu và tay tả”. Dựa trên các nguồn tài liệu đã thu thập, tôi xin trả lời như sau:

1. Thành Ni-ni-ve có bao nhiêu người?

Câu Kinh Thánh ghi rõ: “hơn mười hai vạn người không biết phân biệt tay hữu và tay tả” (tức hơn 120.000 người). Tuy nhiên, con số này không phải là toàn bộ dân số của thành, mà chỉ là một bộ phận cụ thể (sẽ giải thích ở phần 2).

Theo các học giả Kinh Thánh:

  • Dân số thực tế của Ni-ni-ve được ước tính khoảng từ 1 đến 2 triệu người (dựa trên tỷ lệ giữa số trẻ em và tổng dân số).
  • So sánh: cùng thời điểm đó, thủ đô Sa-ma-ri của nước Y-sơ-ra-ên chỉ có khoảng 20.000-30.000 dân – chưa tới 1/4 dân số Ni-ni-ve.
  • Ni-ni-ve được xem là thành phố lớn nhất thế giới vào thời cực thịnh, là thủ đô của Đế chế A-si-ri (Assyria), với chu vi thành khoảng 95 km, phải mất 3 ngày đi bộ mới đi hết.

2. “Không biết phân biệt tay hữu và tay tả” nghĩa là gì? Có phải chỉ trẻ em không?

Đây là cụm từ ẩn dụ, không phải mô tả y khoa về nhận biết tay trái/tay phải. Dựa trên các nguồn tài liệu, có hai cách hiểu chính:

Cách hiểu thứ nhất (phổ biến nhất trong các nguồn đã thu thập): Cụm từ này chỉ những trẻ em còn nhỏ, chưa biết phân biệt phải trái – tức lứa tuổi chưa đủ khả năng nhận thức về đạo đức, chưa chịu trách nhiệm về hành động của mình. Đây là cách giải thích được nhiều học giả ủng hộ, vì vậy dân số Ni-ni-ve được suy ra từ số trẻ em (120.000) tỷ lệ với tổng dân số.

Cách hiểu thứ hai (bổ sung): “Không biết phân biệt tay hữu và tay tả” còn được hiểu là sự “mù lòa về tâm linh” – những người không biết phân biệt điều đúng/sai, không biết tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, giống như trẻ thơ non nớt. Một số bài giảng cũng giải thích rằng điều này nhấn mạnh lòng thương xót của Chúa dành cho những người lầm lạc, chưa nhận biết Ngài.

Về câu hỏi “có phải trẻ em thì không phân biệt được tay hữu và tay tả?”: Về mặt sinh học, không phải chỉ trẻ em mới không phân biệt được tay trái/phải. Việc nhận biết phải/trái của một người phụ thuộc vào sự phát triển thần kinh, nhận thức và thói quen, nhiều người trưởng thành cũng gặp khó khăn khi phân biệt nhanh (nhất là khi bị hỏi đột ngột). Tuy nhiên, trong ngữ cảnh Kinh Thánh, cụm từ này không nhằm mục đích mô tả khả năng sinh học, mà là hình ảnh ẩn dụ để nói về sự non nớt về nhận thức đạo đức và tâm linh – những người chưa đủ hiểu biết để chịu trách nhiệm trước tội lỗi, giống như trẻ thơ.

Tổng kết

Câu Giô-na 4:11 cho thấy lòng thương xót của Đức Chúa Trời: Ngài đoái tiếc cả dân thành Ni-ni-ve – kể cả những người non nớt như trẻ em (120.000 người chưa đủ nhận thức) – cùng với cả thú vật trong thành. Đây là bài học về lòng trắc ẩn, tương phản với sự ích kỷ và định kiến của tiên tri Giô-na, người chỉ tiếc nuối một cây dưa dù không tốn công trồng, lại căm ghét cả một thành phố với hàng triệu mạng sống.

🙂

Người A-si-ri cổ đại được biết đến là một trong những đế chế tàn bạo nhất trong lịch sử. Sự tàn bạo của họ thể hiện qua nhiều nguồn sử liệu và tài liệu khảo cổ. Dưới đây là những chi tiết cụ thể:

Sự tàn bạo thể hiện qua các ghi chép lịch sử

1. Các hình phạt dã man được chính các vua A-si-ri ghi lại:

Một trong những bằng chứng rõ ràng nhất là cách các vị vua A-si-ri tự hào mô tả việc trừng phạt kẻ thù của mình. Theo nguồn tài liệu lịch sử, một vua A-si-ri đã kể lại:

  • “Ta chặt tay chân các sĩ quan… Nhiều tên ta thiêu sống, và nhiều đứa ta giam giữ. Một số ta chặt bàn tay và ngón tay, một số khác ta cắt mũi”.

2. Chiến thuật tâm lý chiến:

Sự tàn bạo của người A-si-ri không chỉ là hành động tàn ác đơn thuần, mà còn là chiến thuật có chủ đích để gieo rắc kinh hoàng cho kẻ thù. Họ muốn tạo tiếng xấu về mình để các thành khác phải khiếp sợ mà đầu hàng trước khi giao chiến.

3. Các chiến dịch hủy diệt:

Theo các nguồn sử liệu, người A-si-ri:

  • Tàn phá và thiêu hủy các thành phố bị chinh phục
  • Bắt toàn bộ dân cư đi lưu đày
  • Phá hủy hoàn toàn vương quốc Y-sơ-ra-ên (Sa-ma-ri sụp đổ năm 740 TCN) – “bị giày xéo dưới chân của quân A-si-ri”
  • Cướp bóc, bóc lột và “giày-đạp chúng nó như bùn ngoài đường”

4. Sự kiêu ngạo và khát vọng chinh phục:

Trong sách Ê-sai, Đức Chúa Trời mô tả người A-si-ri: “lại thích phá-hại, và hủy-diệt nhiều dân” (Ê-sai 10:7). Họ đi chinh phục không chỉ vì mục đích chiến lược mà còn vì chính sự ham muốn phá hủy.

Bằng chứng khảo cổ học

Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấy nhiều phù điêu, bia đá, và ghi chép cung đình mô tả chi tiết:

  • Cảnh hành quyết tù binh
  • Việc cắt lưỡi, móc mắt, cắt tai các tù nhân
  • Đóng cọc, lột da sống các tên chỉ huy bị bắt giữ
  • Tầng tầng lớp lớp đầu người bị chất thành đống

Những minh chứng cụ thể từ Kinh Thánh

Câu Kinh Thánh trong sách Na-hum 3:19 kết luận về sự sụp đổ của A-si-ri rằng: “Ai sẽ vỗ tay mừng vì sự độc ác của ngươi luôn luôn đi qua trên ai” – cho thấy sự căm ghét và nhẹ nhõm của các dân tộc bị áp bức khi đế chế này sụp đổ.

Vì sao họ tàn bạo như vậy?

Các nhà sử học cho rằng sự tàn bạo của người A-si-ri không phải là sự tàn ác vô nghĩa. Đó là một phương thức cai trị có tính toán:

  • Khủng bố để ngăn chặn các cuộc nổi loạn
  • Tạo danh tiếng đáng sợ giúp họ thống trị nhiều dân tộc khác nhau mà không cần tốn nhiều quân lực
  • Thể hiện quyền lực tuyệt đối của vua và đế quốc

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách khách quan rằng không phải toàn bộ văn hóa A-si-ri chỉ là tàn bạo. Họ cũng có những thành tựu về kiến trúc, thư viện, nghệ thuật và khoa học. Nhưng xét về lịch sử quân sự, A-si-ri thực sự để lại danh tiếng “đẫm máu” nhất trong khu vực Tây Á cổ đại.


Hướng Đi Ministries Hướng Đi Ministries
9/10 1521 bình chọn